Thực trạng việc đảm bảo an ninh lương thực tại Việt Nam

nông nghiệp việt nam

An ninh lương thực hay an ninh lương thực quốc gia được hiểu là sự đảm bảo của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lương thực nhập khẩu.

Việc bảo đảm an ninh lương thực tại nhiều quốc gia được đặt ngang hàng với các mối đe dọa an ninh khác như tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu, của ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Đặc biệt, Trong thời điểm hiện nay, nhất là sau cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008, tất cả các quốc gia trên thế giới càng nhận thức rõ tầm quan trọng sống còn của vấn đề an ninh lương thực trong chiến lược phát triển bền vững và bảo đảm an ninh quốc gia. Đối với Việt Nam, an ninh lương thực luôn được xem là một vấn đề quan trọng gắn liền với đảm bảo an sinh xã hội, với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, đặc biệt việc đảm bảo an ninh, tạo tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai.

An ninh lương thực quốc gia nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng ở nước ta thời gian qua luôn được bảo đảm và đã đạt được những thành tựu quan trọng. Chỉ tính riêng giai đoạn 2001 – 2008, sản lượng các loại ngũ cốc tăng bình quân 3,7%/năm, cao hơn khoảng 3 lần tốc độ tăng dân số trong cùng thời kỳ. Từ chỗ không tự chủ được vấn đề lương thực, đến nay chúng ta không những bảo đảm nhu cầu trong nước mà còn dành khoảng 5 triệu – 6 triệu tấn gạo để xuất khẩu mỗi năm, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Hệ thống lưu thông lương thực đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện cho mọi người dân tiếp cận lương thực. Thị trường nội địa chuyển dần sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước v.v.. Việt Nam ngày càng khẳng định và thể hiện được vai trò, uy tín đối với vấn đề an ninh lương thực và công cuộc chống đói nghèo toàn cầu. Tuy nhiên, an ninh lương thực nước ta nói chung, quản lý và điều hành sản xuất, kinh doanh, xuất nhập lương thực thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập.

Một là, nhận thức về vai trò của nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi xu thế phát triển công nghiệp của thế giới và tâm lý “trọng công”, “trọng thương” hơn “trọng nông” của lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương. Từ một nước thiếu lương thực trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo đã tạo tâm lý chủ quan, thậm chí coi nhẹ, thiếu quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp của không ít các nhà quản lý và hoạch định chính sách, giới khoa học nông nghiệp và ngay cả nông dân. Thật vậy, do nhận thức chưa đầy đủ, việc triển khai các chủ trương lớn của TW về vấn đề nông nghiệp, nông thôn tại một số bộ, ngành, địa phương còn bất cập, chưa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng. Có một thực tế là ở nhiều địa phương đều có “tâm lý chung” sẵn sàng “hy sinh” nông nghiệp để phát triển công nghiệp vì những cái lợi trước mắt. Hạn chế về nhận thức và tâm lý chủ quan này đang là rào cản đối với ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay.

Hai là, quy hoạch tổng thể quỹ đất sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất sản xuất lương thực nói riêng, nhất là đất trồng lúa. Trên thực tế, việc sử dụng đất trồng lúa ở một số địa phương chưa thật hiệu quả. Hiện tại, xu hướng phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị ở một số tỉnh, thành phố còn chưa sát với quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai của địa phương đã làm cho diện tích đất trồng lúa sụt giảm với tốc độ nhanh chóng. Tính đến tháng 12-2008, cả nước có 190 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố với tổng diện tích gần 46.000 ha. Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập với tổng diện tích khoảng hơn 28.700 ha. Để giảm tối đa chi phí đầu tư, san lấp mặt bằng, đa số các nhà đầu tư hướng tới vùng đất đồng bằng, chủ yếu là diện tích đang canh tác lúa hoặc hoa màu. Những vùng đất xấu, khu vực miền núi không được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lựa chọn. Do vậy, xuất hiện xu hướng các tỉnh, thành phố đã từ bỏ vựa lúa, xin phép thành lập các khu, cụm công nghiệp, thậm chí sẵn sàng”xé rào” để thu hút đầu tư. Ngoài ra, ở một số địa phương việc sử dụng đất chưa có hiệu quả, thậm chí sai mục đích. Đặc biệt là việc phát triển các sân golf hiện nay cũng là nhân tố góp phần thu hẹp đáng kể diện tích đất nông nghiệp. Hiện cả nước có hơn 60 sân golf đã đi vào hoạt động, trong đó tỷ lệ sân golf hoạt động có hiệu quả thấp, tuy vậy các địa phương vẫn tiếp tục muốn thu hút vốn đầu tư vào các dự án sân golf mới. Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 2001 – 2007, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là trên 500.000 ha, trong đó năm 2007 đã giảm 127.000 ha, đưa diện tích đất canh tác trên cả nước chỉ còn 4,1 triệu héc-ta. Dự báo, từ nay đến năm 2025, khoảng 10% – 15% diện tích đất nông nghiệp và các loại đất khác sẽ chuyển đổi mục đích phục vụ phát triển công nghiệp. Theo đó, diện tích đất trồng lúa đến năm 2010 còn khoảng 4 triệu ha, năm 2015 khoảng 3,8 triệu ha, đến năm 2020 chỉ còn khoảng 3,6 triệu ha. 

Trước thực tế là dân số nước ta đông, trong đó hơn 70% sống ở khu vực nông thôn, đất canh tác không nhiều, nếu tính theo đầu người thì ở mức thấp nhất thế giới, gần 0,11 ha/người, trong đó diện tích đất trồng lúa chỉ còn 0,48 ha/người. Là một nước có tỷ lệ tự túc lương thực cao, nền nông nghiệp cơ giới Việt Nam thực sự còn phải đòi hỏi những khu vực canh tác rộng lớn. Diện tích đất canh tác ngày một thu hẹp như vừa qua sẽ càng khiến cho nó bị chia cắt, manh mún dẫn tới việc sản xuất lương thực không mang lại lợi nhuận. Người canh tác lại tìm cách chuyển đổi giống cây trồng, cây canh tác khác, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và đương nhiên diện tích trồng lúa ngày một ít đi. Có thể nói đây là thách thức lớn nhất trong giải quyết bài toán hài hòa giữa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và duy trì quỹ đất nông nghiệp để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Ba là, đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế, chưa ngang tầm với đòi hỏi, nhất là chưa có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh lương thực. Trước hết, dễ nhận thấy rằng, đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nhất là hệ thống thủy lợi còn hạn chế. Hiện nay, các công trình phục vụ việc tưới tiêu (hồ chứa nước, mương tiêu úng) chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nhiều vùng vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Ngoài ra, đầu tư khoa học – công nghệ cho nghiên cứu phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng lương thực chưa phù hợp với nhu cầu phát triển và trình độ khoa học – công nghệ của thế giới. Tại Việt Nam, mô hình nông nghiệp công nghệ cao mới đang trong quá trình hình thành (Khu Nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Nông nghiệp công nghệ cao thuộc Khu Công nghệ cao Hòa Lạc). Nước ta là một nước nông nghiệp, nhưng ngân sách dành cho đầu tư nông nghiệp chỉ chiếm 1,7% GDP; trong khi đó con số này tại Trung Quốc là 6%, Thái Lan và Ma-lai-xi-a cùng ở mức 10%. Sự phân bổ ngân sách trong 1,7% GDP cũng chưa tương xứng cho các hoạt động khoa học nghiên cứu chuyên sâu. Hiện cả nước có khoảng 32 viện nghiên cứu với trên 100 trung tâm nghiên cứu hoạt động khoa học nông nghiệp, nhưng với việc phân bổ kinh phí nghiên cứu như vừa qua, tính trung bình một giống cây lúa mới chỉ được đầu tư 15.000 – 20.000 VND/năm. Đây là tỷ lệ rất thấp đối với một nền nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam. Hàm lượng khoa học trên một đơn vị sản phẩm nông nghiệp ở mức thấp khiến hàng nông sản Việt Nam dễ mất khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Một nghịch lý khác trong chính sách nông nghiệp Việt Nam hiện nay là, do thực hiện chính sách khoán gọn cho các địa phương nên để bảo đảm cân đối ngân sách, có địa phương đã bán cả đất trồng lúa. Bên cạnh đó, Luật Ngân sách hiện nay chưa khuyến khích được những địa phương có nhiều đất trồng lúa và người nông dân để họ yên tâm bảo vệ đất trồng lúa, không chuyển sang làm khu công nghiệp, sân golf hay đô thị cho thu nhập cao hơn.

Bốn là, sự yếu kém trong hệ thống phân tích, dự báo cung – cầu lương thực, điều hành sản xuất, dự trữ, xuất khẩu và giá cả đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập của người nông dân. ở Việt Nam, lương thực cho hơn 90 triệu dân ở vào thời điểm hiện nay không phải là vấn đề nan giải. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam là phải sử dụng hiệu quả nguồn lương thực mà người nông dân sản xuất ra trong phạm vi cả nước. Đó là việc tính toán, cân đối được lượng gạo ở từng thời điểm, mùa vụ để có kế hoạch dự trữ và xuất khẩu; đồng thời vẫn bảo đảm được an ninh lương thực trong nước. Tuy nhiên, đến nay ngành nông nghiệp vẫn chưa có một hệ thống thống kê tốt để nắm được sản lượng trong từng thời điểm, ở từng địa phương, từng doanh nghiệp để điều hành thị trường. Hạn chế này là nguyên nhân chính dẫn tới những bất hợp lý, thua thiệt trong điều hành xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những năm qua. Ngoài ra, chất lượng sản phẩm của Việt Nam chưa đủ sức cạnh tranh, mạng lưới thu mua chưa xuống tới nông thôn làm cho giá thành sản xuất cao, giảm hiệu quả kinh doanh và cạnh tranh. Mặc dù là một trong những nước hàng đầu về xuất khẩu gạo nhưng thương hiệu “hạt gạo Việt Nam” đang là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp, các doanh nghiệp và cả các nhà hoạch định chiến lược.

Năm là, hệ thống, cơ chế thu mua, phân phối lúa gạo còn một số hạn chế, nhất là chưa được tổ chức chặt chẽ, vai trò quản lý của Nhà nước chưa đủ mạnh. Hiện nay, việc xuất khẩu gạo và điều hòa an ninh lương thực chủ yếu do Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) phụ trách, song trên thực tế hoạt động của VFA còn nhiều bất cập, có lúc còn thiếu tính kế hoạch và hiệu lực cần thiết. Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trong khi phần lớn doanh nghiệp kinh doanh lương thực không có kho dự trữ lúa gạo, do vậy doanh nghiệp chỉ thu mua khi ký được hợp đồng xuất khẩu. Mặt khác, đa phần hệ thống thu mua và bán lẻ gạo do tư thương đảm nhiệm nên Nhà nước khó kiểm soát giá thu mua để bảo đảm lợi ích cho nông dân. Tại nhiều nơi, tình trạng tư thương ép giá, gây thiệt hại cho người nông dân vẫn phổ biến. Trong khi đó, hệ thống các doanh nghiệp được Nhà nước cho phép thu mua, phân phối, xuất khẩu lúa gạo có chức năng điều tiết và bình ổn thị trường lương thực chưa thể hiện được vai trò của mình, để xảy ra tình trạng thiếu, thừa lương thực cục bộ. 

Sáu là, sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bắt đầu bộc lộ những hạn chế chứng tỏ mô hình canh tác nông nghiệp hiện tại đang mất dần tính tiên phong, vì thế cần được đổi mới. Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn nông dân canh tác trên diện tích nhỏ, chỉ khoảng 1 ha/hộ. Ruộng đất manh mún đã hạn chế sự đầu tư thâm canh và cơ giới hóa nông nghiệp; đồng thời là nguyên nhân dẫn tới thất thoát lớn trong thu hoạch và sau thu hoạch (khoảng 14%). Việc triển khai thực hiện chủ trương “dồn điền, đổi thửa” mặc dù đã thu được những kết quả tích cực tại một số địa phương, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế nên chưa trở thành phong trào rộng khắp để có thể thay đổi nếp tư duy và phong cách làm ăn đã hình thành trong nhiều năm. Rõ ràng, mô hình kinh tế hộ cá thể không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Từng nông hộ riêng lẻ sẽ không thể canh tác có hiệu quả trên mảnh đất nhỏ và cũng không thể đối phó hữu hiệu với các vấn đề phát sinh từ quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế.

Bảy là, sự tác động của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp trong nước. Một thực tế mà chúng ta đang phải đối mặt là tình trạng ô nhiễm môi trường báo động ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động. Kết cấu hạ tầng chưa hoàn thiện, khâu xử lý nước thải và an toàn môi trường chưa được chú trọng. Hay những cơ sở có xây dựng nhưng cố ý làm không đúng quy trình, gian lận, ngày càng đầu độc môi trường sống. Việc quy hoạch không đồng bộ gây nên tình trạng ngập úng hoặc hạn hán cục bộ do phá vỡ hệ thống kênh mương tiêu thoát nước…; cùng với việc hình thành các bãi rác tự phát hay cố ý cũng đã, đang và sẽ làm ô nhiễm nguồn nước tưới tiêu… ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng đất, nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu có thể làm nước biển xâm nhập, lấn chiếm diện tích đất canh tác. Dự tính, Việt Nam sẽ là 1 trong 5 nước chịu thiệt hại nặng nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu. Với kịch bản dự báo nước biển dâng 1m, đồng bằng sông Hồng sẽ mất 5.000 km2 đất, đồng bằng Sông Cửu Long bị ngập mặn khoảng 15.000 – 20.000 km2; tổng sản lượng lương thực sẽ giảm khoảng 5 triệu tấn. Đó là chưa kể đến những khó khăn từ dịch bệnh và thiên tai ngày càng khắc nghiệt và gia tăng đối với sản xuất nông nghiệp.

Những khó khăn, thách thức trên đang đặt ra cho ngành nông nghiệp nước ta nhiều vấn đề cần giải quyết. Khó khăn trước mắt đang tác động trực tiếp đến sản xuất lương thực là tình trạng thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp diễn ra tốc độ cao do việc đô thị hóa, công nghiệp hóa. Trong khi đó tốc độ công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp và dịch vụ chưa tương xứng với đòi hỏi của thực tế. Công tác dự báo, điều tiết giá cả và sử dụng hiệu quả nguồn lương thực sản xuất ra còn hạn chế. Về lâu dài, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

Để xây dựng được chiến lược đồng bộ về quản lý, điều hành sản xuất và xuất khẩu lương thực nhằm bảo đảm ổn định lương thực tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu, nâng cao thu nhập của người nông dân trồng lúa, thiết nghĩ cần gợi mở một số hướng giải pháp chung như sau:

Thứ nhất, khẩn trương rà soát, xây dựng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất sản xuất lương thực nói riêng, đặc biệt là đất trồng lúa; nghiên cứu điều chỉnh một số điều khoản của Luật Đất đai, Luật Ngân sách nhằm bảo vệ đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa.

Thứ hai, đầu tư khoa học – công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực để nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, cải tiến kỹ thuật sản xuất, nghiên cứu đẩy nhanh tiến độ xây dựng mô hình các khu nông nghiệp công nghệ cao, tạo bước đột phá năng suất chất lượng giống cây trồng, đặc biệt là công nghệ sản xuất lúa lai, ngô lai; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho việc bảo quản, chế biến sau thu hoạch như kho hàng, kho dự trữ lúa nhằm tăng công suất dự trữ và bảo đảm yêu cầu kỹ thuật để tăng thời gian dự trữ, giảm tổn thất sau thu hoạch.

Thứ ba, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở các đòn bẩy về lợi ích; tích cực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nông nghiệp thông qua các cơ chế ưu đãi; tăng sự hấp dẫn bằng sự đãi ngộ và tạo môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà khoa học nông nghiệp, nhất là các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học mũi nhọn như chuyển gen, công nghệ sinh học, công nghệ lai tạo v.v..

Thứ tư, xây dựng cơ chế giám sát, thu mua lúa gạo bảo đảm lợi ích cho người nông dân; xây dựng cơ chế điều hành xuất khẩu gạo linh hoạt, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tăng cường đầu tư để nâng cao khả năng dự báo về cung cầu trong nước và giá cả thị trường lúa gạo thế giới để có phương án sản xuất linh hoạt theo thị trường. Ưu tiên hỗ trợ cho các tỉnh thuần nông, cho các vùng sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn; Chính phủ cần có biện pháp, chế tài để sử dụng nguồn thu ngân sách từ phát triển công nghiệp, nguồn thu từ chuyển đổi mục đích sử dụng đất để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, vật tư phục vụ phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện cho các tỉnh nông nghiệp bắt kịp với nhịp độ phát triển kinh tế của cả nước.

Thứ năm, thực hiện một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa gạo: Nghiên cứu đánh giá đầy đủ, chính xác những tác động của biến đổi khí hậu tới nông nghiệp, nông thôn từng vùng để có cơ sở đề xuất các giải pháp hữu hiệu về phát triển và bảo vệ sản xuất lương thực thực phẩm; từng bước xây dựng các công trình giảm thiểu tác hại của nước biển dâng, lũ lụt và khô hạn, cần bảo vệ vững chắc vùng đồng bằng sông Cửu Long trước đe dọa của nước biển dâng.

Cuối cùng, cần thiết phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: Đầu tư chuyển giao công nghệ, hợp tác sản xuất lúa gạo tại các nước có tiềm năng về sản xuất lương thực; tiếp tục duy trì các thị trường tiêu thụ lúa gạo truyền thống, tìm kiếm các thị trường tiềm năng như châu Phi, Đông Âu và Trung Đông./.