Quản lý hoạt động XKLĐ tại Hà Tĩnh

Trong giai đoạn toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức sôi động và mạnh mẽ như ngày nay XKLĐ là một tất yếu khách quan không những đối với Hà Tĩnh mà còn đối với nhiều địa phương khác trong cả nước. Cùng với sự tăng tốc của các cường quốc mạnh và những phát minh khoa học công nghệ tiên tiến tối ưu thì ngoài việc học hỏi tiếp thu các thành tựu của nước bạn, chúng ta cần đem chính những nhân công Việt Nam sang tận các nước đó để tiếp thu những kỹ năng nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nước sở tại. Bởi nếu được trực tiếp quan sát, làm việc thì chúng ta sẽ nhanh chóng lĩnh hội tốt hơn. Đồng thời xuất cảnh làm cho người lao động Việt Nam có cơ hội mở rộng tầm nhìn toàn cảnh nền kinh tế thế giới, để rồi cải thiện cuộc sống người lao động, gây dựng viễn cảnh tương lai tươi sáng hơn cho chính mình và tương lai phồn thịnh của đất nước mình.

Trong thời gian qua từ năm 2000 – 2012 có gần 70 nghìn lao động Hà Tĩnh, bao gồm cả lao động kỹ thuật lẫn lao động giản đơn hiện đang lao động ở 40 nước và vùng lãnh thổ, XKLĐ đã góp phần đáng kể vào mục tiêu giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo cho Hà Tĩnh. Tuy nhiên cần hiểu và giải quyết vấn đề XKLĐ này như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh của tỉnh là một vấn đề cần phải có chiến lược lâu dài và vững chắc. Vì thế trả lời câu hỏi ai thuộc diện XKLĐ? ai đi ? đi đâu? và đi như thế nào? lại là một vấn đề lớn mà để giải quyết được một cách toàn diện thì cần phải có sự quan tâm và nhập cuộc của rất nhiều nhà hoạch định chính sách, tư vấn chuyên gia và các doanh nghiệp làm công tác XKLĐ.

Do yêu cầu về XKLĐ ngày càng khắt khe về trình độ lao động, kỹ năng tay nghề, nhất là đối với công việc trong công xưởng, nhà máy; về kỷ luật lao động và ngoại ngữ, nhất là tại các thị trường không thông dụng tiếng Anh. Hiện lao động của Hà Tĩnh ra nước ngoài cơ bản đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp sở tại, nhưng tay nghề, trình độ còn hạn chế, nên khó đưa sang các nước có nền kinh tế phát triển. Tại các thị trường truyền thống, phần lớn lao động Hà Tĩnh được đánh giá khá tốt về khả năng làm việc, chăm chỉ và tiếp thu nhanh. Nhìn chung, thu nhập của người lao động ổn định. Đặc biệt, lao động làm việc trong các nhà máy sản xuất công nghiệp, công trường xây dựng lớn có liên doanh với nước ngoài có điều kiện làm việc, ăn ở và thu nhập khá tốt.

Song, một vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến công tác XKLĐ của Hà Tĩnh là tình trạng lao động bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp ngày càng nhiều, dẫn tới việc một số thị trường phía bạn ngừng tiếp nhận lao động Hà Tĩnh nói riêng và Việt Nam nói chung. Để khắc phục tình trạng này, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã đưa ra một số giải pháp nhằm chấn chỉnh công tác tuyển chọn, đào tạo – giáo dục định hướng, quản lý lao động ở nước ngoài của các doanh nghiệp; đồng thời tìm kiếm, vận động đưa số lao động bất hợp pháp này về nước. Tuy nhiên trên thực tế, chúng ta chưa có chế tài đủ mạnh để hạn chế, tiến tới ngăn chặn tình trạng lao động bỏ hợp đồng ra ngoài làm ăn, cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài.

Vì vậy để giảm bớt đi những điểm hạn chế và tăng cường những thành tựu cho công tác XKLĐ thì cần tiến hành những giải pháp sau:

Thứ nhất, Bộ lao động – Thương binh và Xã hội cần tiến hành rà soát, đánh giá các yếu tố liên quan, ban hành các chủ trương, chính sách, đặc biệt là hỗ trợ vay vốn cho người lao động xuất khẩu.

Thứ hai, tiếp tục xúc tiến và mở rộng thị trường. Phối hợp với các bộ, ngành, tỉnh, thành phố, doanh nghiệp phát triển thị trường XKLĐ. Đồng thời, kiện toàn Ban Quản lý lao động, đầu tư trang thiết bị, điều kiện làm việc và chuyên nghiệp hoá đội ngũ cán bộ về phát triển thị trường, về quản lý lao động ở nước ngoài, cũng như đội ngũ quản lý doanh nghiệp XKLĐ.

Thứ ba, làm tốt công tác quản lý lao động ở nước ngoài và đổi mới công tác đào tạo, giáo dục lao động trước khi đi.

Thứ tư, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền. Theo đó, các tỉnh, thành phố cần rà soát, bổ sung đề án XKLĐ với các nội dung bao gồm: thông tin, tuyên truyền chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, quy chế, quy trình XKLĐ với các hình thức phù hợp đến tận thôn, bản, tới người dân với tinh thần thật dễ hiểu.

Đồng thời, xây dựng lộ trình sắp xếp, phát triển doanh nghiệp XKLĐ theo định hướng, tiêu chí của Luật Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở đào tạo của doanh nghiệp để chủ động tạo nguồn lao động có chất lượng theo yêu cầu của thị trường, xây dựng thương hiệu, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có cơ chế biện pháp cụ thể để hỗ trợ người lao động, người nghèo vay vốn, học nghề, làm thủ tục XKLĐ.

– Thực hiện cải cách và sắp xếp lại các doanh nghiệp XKLĐ theo tinh thần chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, phù hợp với các văn bản pháp luật về XKLĐ hiện hành và trên cơ sở hiệu quả hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp đã được cấp phép hoạt động kinh doanh XKLĐ.

Tiến hành sắp xếp lại, giải thể các doanh nghiệp nhà nước chuyên doanh XKLĐ hoạt động không có hiệu quả, vi phạm pháp luật về XKLĐ, kinh doanh không lành mạnh làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người LĐXK và lợi ích của tỉnh. Thiết lập các điều kiện và quy trình thẩm định việc cấp phép kinh doanh XKLĐ mới theo hướng vừa chặt chẽ, thống nhất trong cả nước và đối với các thành phần kinh tế, đồng thời vừa tạo điều kiện thuận lợi tối đa, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động XKLĐ. Chỉ nên giữ lại các doanh nghiệp XKLĐ hoạt động có hiệu quả, có đủ tiềm lực về vốn, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ có khả năng quản lý, khai thác mở rộng thị trường, có đủ tiềm lực để nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động XKLĐ. ở khu vực Đông Bắc á và các khu vực khác.

– Tỉnh cần ban hành, bổ sung các chính sách, biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia hơn nữa vào hoạt động XKLĐ, như: thực hiện ưu đãi thuế đầu tư thúc đẩy XKLĐ, hỗ trợ các doanh nghiệp XKLĐ mới thành lập tiếp cận thông tin về thị trường, đối tác…

– Cơ quan quản lý hoạt động XKLĐ thường xuyên kiểm tra giám sát các doanh nghiệp XKLĐ trong việc ký kết và thực hiện các điều khoản trong hợp đồng cung ứng lao động cho các đối tác nước ngoài để đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và thỏa thuận hợp tác lao động của nước ta với các nước NKLĐ. Kiểm tra, giám sát các hoạt động môi giới, tuyển dụng đưa người ra nước ngoài làm việc của các đơn vị XKLĐ nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro trong hoạt động XKLĐ, tránh các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật, nhất là trong hoạt động thu phí môi giới, tuyển dụng, đào tạo LĐXK,…

– Hội XKLĐ Hà Tĩnh phát huy vai trò và nâng cao trách nhiệm trong hoạt động để tạo ra sự bình đẳng, thống nhất và ổn định trong hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ; chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gian lận trong hoạt động XKLĐ như tăng phí môi giới để dành đối tác, thu phí đi XKLĐ sai quy định,…

– Cơ quan quản lý hoạt động XKLĐ định kỳ đánh giá, tổng kết về công tác XKLĐ, các mô hình XKLĐ hiệu quả để rút kinh nghiệm, đưa ra các biện pháp quản lý, điều tiết phù hợp với những biến động của tình hình thực tế, tạo sự thống nhất cho các doanh nghiệp về cơ chế hoạt động và sự thuận lợi trong quá trình giải quyết các tiêu cực phát sinh trong hoạt động XKLĐ.

– Thực hiện phân cấp, phân công rõ ràng và thống nhất, quy trách nhiệm cụ thể đối với các cơ quan chức năng, doanh nghiệp XKLĐ trong việc quản lý, giám sát người lao động đang lao động, tu nghiệp ở nước ngoài. Các doanh nghiệp XKLĐ có trách nhiệm quản lý lao động do doanh nghiệp đưa ra nước ngoài làm việc, như: về số lượng, địa điểm lao động, điều kiện làm việc và sinh hoạt và thực hiện các nghĩa vụ khác theo pháp luật hiện hành. Phối hợp chặt chẽ với phía sử dụng lao động và người lao động thực hiện đầy đủ và đúng các điều khoản trong các hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp với phía tiếp nhận, giữa người lao động với chủ sử dụng lao động để đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia.

– Tăng cường công tác hỗ trợ, bảo vệ LĐXK. Thiết lập các văn phòng quản lý, thiết lập đường dây trao đổi thông tin giữa bộ phận quản lý lao động với người sử dụng LĐXK để cùng giải quyết các vướng mắc, tranh chấp phát sinh liên quan đến quyền lợi của LĐXK.

Để đẩy mạnh công tác XKLĐ thì không chỉ đòi hỏi nỗ lực của các doanh nghiệp mà còn cần tới sự liên kết phối hợp giữa cơ quan nhà nước và bản thân người lao động.

Thực hiện tốt những giải pháp trên chúng tôi tin rằng XKLĐ của Hà Tĩnh, Việt Nam sẽ ngày một mạnh hơn về cả chất lẫn lượng.Và thương hiệu lao động Việt Nam sẽ được khẳng định trên trường Quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Xuân Bá (2010), “Một số vấn đề phát triển thị trường lao động ở Việt Nam”, NXB Lao Động, Hà Nội.
  2. Nguyễn Thị Hồng Bích (2007), “XKLĐ của một số nước Đông Nam Á kinh nghiệm và bài học”, Trung tâm nghiên cứu quốc tế và khu vực.
  3. Đinh Đăng Định (2012), “Một số vấn đề về lao động việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
  4. Phan Huy Đường (2009), “Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về XKLĐ”, Tạp Chí Lao động và Xã hội, số 357, tháng 4 năm 2009.
  5. Phan Huy Đường (2010), “Quản lý nhà nước về XKLĐ ở Việt Nam”, Đề tài cấp ĐHQGHN, Mã số: QK.08.03
  6. Phan Huy Đường (2012), “Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  7. Lê Hồng Huyên (2008), “Tác động của di chuyển lao động quốc tế đối với sự phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt nam học lần thứ 3 tháng 12/2008;
  8. Nguyễn Thị Phương Linh (2003), “Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính về XKLĐ Việt Nam theo cơ chế thị trường”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng.
  9. Nguyễn Trọng Minh (2008), “Giải pháp để doanh nghiệp XKLĐ hoàn thành mục tiêu năm 2008”, Tạp chí lao động và xã hội số 329 (từ 16-29/02/2008)
  10. Nguyễn Hải Nam (2007), “Đổi mới và hoàn thiện mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và địa phương về XKLĐ”, Tạp chí lao động và xã hội số 323 (từ 16-30/11/2007)
  11. Lâm Nguyên (2008), “5 giải pháp để phát triển XKLĐ”, http://www.Vnmedia, cập nhật ngày 15/01/2008
  12. Nguyễn Tiệp (2007), “Thị trường lao động”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội.
  13. Hạ Huyền Trang (2012), “XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Trung đông”, Luận văn thạc sĩ kinh tế đối ngoại, ĐHKT-ĐHQGHN.

Website:

  1. http://www.dcsvn.vn –  bài viết “xuất khẩu lao động – cần có một chiến lược phát triển quốc gia” cập nhật ngày 18/12/2007.
  2. http:// www.molisa.gov.vn – bài viết “Để nâng cao chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài” cập nhật ngày 02/01/2008
  3. http://www.nguoilaodong.com – bài viết “Người lao động Việt Nam tử nạn ở Malaysia” cập nhật ngày 16/04/2008
  4. Website http://www.vietnamnet.vn – bài viết “lao động xuất khẩu sẽ gánh thêm nhiều trọng trách” cập nhật ngày 15/08/2006
  5. 10 –http://www.Vietbao.com – bài viết “ Luật xuất khẩu lao động mới – chế tài liệu có đủ mạnh” cập nhật ngày 14/01/2006
  6. 11 –http://www.VnExpress.vn – bài viết “Sẽ hạn chế xuất khẩu người giúp việc” cập nhật ngày 21/08/2006
  7. 12 – http://www.VnEconomy.vn – bài viết “Xuất khẩu lao động thiếu gắn kết” cập nhật ngày 27/12/2007

13 – http://www.Vnmedia – bài viết “5 giải pháp để phát triển xuất khẩu lao động” cập nhật ngày 15/01/2008

Tải luận văn tại đây: http://123link.pw/FZXxULSm