Quan chế thời Hậu Lê – những nội dung cơ bản và giá trị kế thừa trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay”

Thứ nhất, chế độ đào tào và tuyển dụng quan chức thời Hậu Lê đã đẻ ra tầng lớp trí thức Nho giáo, hình thành một đội ngũ quan chức quan liêu. Lấy khoa cử làm hình thức đào tạo và tuyển dụng quan chức chủ yếu của NN, đó là một chủ trương, chính sách đúng đắn của các vị vua thời Hậu Lê. Chế độ khoa cử thời Hậu Lê là sự kế thừa và phát triển có tính truyền thống của dân tộc ta ở các triều đại trước và được quy định rõ ràng, chặt chẽ tới mức hoàn chỉnh, trở thành chế độ của NN. Chế độ này đã được thời sau bảo lưu giữ gìn cho đến khi nó không còn tồn tại.

Thứ hai, Nho giáo là sản phẩm của văn hóa Trung Hoa du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Nhưng đến thời Lý – Trần nó mới có điều kiện phát triển, song  vẫn chưa có một vị trí, vai trò đáng kể đối với NN cũng như trong đời sống xã hội. Bắt đầu từ thời Hậu Lê trở đi, Nho giáo đã chiếm địa vị độc tôn trong xã hội, và trở thành hệ tư tưởng chính thống. Tất cả những thể chế chính trị, chính sách PL – văn hóa – xã hội đều được xây dựng trên nền tảng của Nho giáo.

Nho giáo căn bản là một đạo trị nước, an dân. Ở vào một địa điểm lịch sử nhất định, nó mang nhiều giá trị tích cực. Song, nó cũng đã bộc lộ hạn chế khi áp dụng vào thực tế xã hội Việt Nam đương thời. Xuất phát từ tính chất kinh viện, xa rời thực tế (nhất là trong sản xuất kinh tế) của Nho giáo, Nhà Hậu Lê với đội ngũ quan chức Nho học đã không điều chỉnh nổi những biến động dồn dập liên tiếp phát sinh từ một hạ tầng cơ sở kinh tế – xã hội luôn luôn là yếu tố năng động.

Các vua nhà Hậu Lê cùng có chung một nhận thức: “Nhân tài nguyên khí của Nhà nước”, cho nên rất coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài – coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của quốc gia. Tuy nhiên, đội ngũ quan chức Nho học do NN đào tạo bằng khoa cử không đảm đương được một chức năng quan trọng: phát triển kinh tế. Đây chính là hạn chế lớn nhất của phương thức đào tạo quan chức bằng khoa cử. Bên cạnh đó còn có những hạn chế khác đi kèm như tạo ra một tầng lớp quan liêu ăn bám, tham nhũng, cố bám vào địa vị (để hưởng lợi). Bản thân khối tri thức được truyền thụ bị gò bó, hạn chế bởi hệ tư tưởng Nho giáo, thiếu các tri thức tự nhiên và thực nghiệm. Quy trình đào tạo cũng không chuyên môn hóa mà tập trung nhiều chức năng khác nhau vào một con người tri thức quan liêu đã hình thành tính hai mặt của chế độ đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Hậu Lê.

Thứ ba, việc sử dụng quan chức thời Hậu Lê tương đối bài bản với những nguyên tắc sử dụng cụ thể, hợp lý, đặc biệt là chế độ đãi ngộ tối ưu cùng với các biện pháp kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng và xử lý nghiêm ngặt của NN thông qua một hệ thống pháp luật chặt chẽ mang đậm tính răng đe và trừng trị đã góp phần đào tạo được đông đảo đội ngũ nhân tài chuyên tâm phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

Thứ tư, hiện nay Đảng và NN ta đã và đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới đất nước trên mọi lĩnh vực để bắt nhịp với những đổi thay mạnh mẽ của khu vực cũng như quốc tế, trong đó điển hình là công tác đổi mới cán bộ nhân lực. Tại đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng đã đề ra mục tiêu: “Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn”. Nhận thức rõ được việc đổi mới lãnh đạo cán bộ các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà chúng ta phải thực hiện triệt để nhằm tạo đà thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng khác. Do vậy, Đảng đã đề ra phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Cụ thể: “Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính minh bạch, công khai, trách nhiệm của họat động công vụ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý NN. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi nhiệm những người không hoàn thành nhiệm vụ và vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân”.

Trong quá trình thực hiện công tác đổi mới cán bộ, Đảng ta luôn trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của ông cha ta. Coi đó là những bài học kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa thực tiễn cao trong công tác cán bộ hiện nay.

Thứ năm, những kiến nghị về ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Cùng với những kiến nghị đã nêu tại phần 3.3 luận văn bổ sung một số vài kiến nghị chi tiết sau:

  • Cần có phương hướng đào tạo cán bộ, công chức hiện nay một cách toàn diện dựa trên nhu cầu thực tiễn của xã hội;
  • Áp dụng chế độ thi cử nghiêm ngặt và nội dung thi sát với yêu cầu của từng ngành, lĩnh vực cụ thể từ đó có thể tuyển chọn được những cán bộ, công chức vừa có trình độ chuyên môn vừa tránh lãng phí tài nhân tài trong xã hội.
  • Cần tổ chức, sắp xếp, quy hoạch cán bộ, công chức hiện nay một cách hợp lý, khoa học;
  • Cần chú trọng hu hút cán bộ, công chức giỏi cho những ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm đặc biệt là ở những vùng xâu vùng xa. Bên cạnh đó, có những chính sách đãi ngộ hợp lý nhằm khuyến khích sự nghiên cứu, sáng tạo cũng như ứng dụng của những cán bộ khoa học – kỹ thuật để phát triển đất nước.
  • Tăng cương vai trò của lãnh đạo nữ trong các ngành nghề…


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đào Duy Anh (1956), Lịch sử Việt Nam – Từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX, Hà Nội.
  2. Phan Trọng Báu (1994), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Bối Khê trạng nguyên đình đối văn sách (1989), Tạp chí Hán Nôm, Số 1/1989.
  4. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  5. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập II, Nxb. Sử học, Hà Nội.
  6. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập III, Nxb. Sử học, Hà Nội.
  7. Đỗ Minh Cương (2006), “Tuyển chọn và sử dụng quan lai ở nước ta thời kỳ trung đại”, Tạp chí xây dựng Đảng, Số 8/2006, Tr. 42 – 44 – 60.
  8. Lương Thanh Cường (2006), Xây dựng các nguyên tắc của hoạt động công vụ trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2006.
  9. Phan Hữu Dật – Nguyễn Văn Khánh – Lâm Bá Nam – Vũ Văn Quốc – Lê Ngọc Thắng (1994), Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  10. Phan Đại Doãn (1997), “Lê Thánh Tông và Nho học – nho giáo”, Lê Thánh Tông – con người và sự nghiệp, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
  12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ III, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ IX, Ban chấp hành Trung ương khoá X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  16. Đại Việt sử ký toàn thư (1983), Bản khắc in năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  17. Đại Việt sử ký toàn thư (2004), Tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  18. Đại Việt sử ký toàn thư, (2003), Tập III, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
  19. Vũ  Minh  Giang (1997), Mấy suy nghĩ về chính sách ruộng đất thời Lê Thánh Tông, Lê Thánh Tông  – con người và sự nghiệp, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  20. Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam (2012), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  21. Lê Thị Thanh Hoà (1998), Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  22. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), TậpVI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  23. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập IV, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  24. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Tập VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  25. Trương Vĩnh Khang (2007), “Lê Thánh Tông và vấn đề xây dựng đội ngũ quan lại – Bài học kinh nghiệm”, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, Số 3/2007, Tr. 105 – 112.
  26. Trần Trọng Kim (1938), Nho giáo (quyển thượng), Hà Nội.
  27. Bùi Huy Khiên (2011), Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh, Nxb. Lao động, Hà Nội.
  28. Lê triều quan chế, (1997), Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
  29. Lịch sử Việt Nam từ nguyên thuỷ đến năm 1858 (1996), Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  30. Luật Cán bộ, công chức 2010.
  31. Luật Viên chức 2010.
  32. Nguyễn Thuý Nga và Nguyễn Thị Lâm (biên dịch) (1993), Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
  33. Lê Kim Ngân (1963), Tổ chức chính quyền dưới triều Lê Thánh Tông, Bộ giáo dục Quốc gia, Sài Gòn.
  34. Trần Hồng Nhung (Luận văn thạc sỹ) (2010), Tham nhũng và phòng chống tham nhũng thời Nguyễn giai đoạn 1882 – 1884, Hà Nội.
  35. Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên) (2006), Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  36. Nguyễn Đức Nhuệ (2006), “Một số nét về khoa cử và thể lệ bổ dụng quan lại thời Lê Trung Hưng”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Số 12/2006, Tr. 31 – 38.
  37. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hoá, Huế.
  38. TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  39. Lê Văn Quán (2013), Lịch sử tư tưởng chính trị – xã hội Việt Nam thời kỳ Lê – Nguyễn, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội.
  40. Quốc triều hình luật (2006), Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  41. Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam thực lục chính biên, Tập III, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  42. Quốc sử quán triều Nguyễn (1969), Đại Nam thực lục chính biên, tập XXI, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  43. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  44. Quốc sử quán triều Nguyễn (1996), Minh Mệnh chính yếu, Tập I, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  45. Nguyễn Ngọc Quỳnh (2011), Hệ thống giáo dục khoa cử và Nho giáo triều Nguyễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  46. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2011), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
  47. Lê Thị Sơn (chủ biên) (2007), Quốc triều hình luật – quá trình hình thành, nội dung và những giá trị đương đại”, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội.
  48. Nguyễn Đình Thắng, Trần Bá Chí, Hoàng Văn Lâu, Nguyễn Tá Nhí (1994), Khoa cử Việt Nam thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Đề tài khoa học cấp Bộ, Trường Đại học tổng hợp, Hà Nội.
  49. Nguyễn Minh Tuấn (2006), Tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp.
  50. Nguyễn Minh Tường (1996), Cải cách hành chính dưới thời Minh Mệnh, Viện sử học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  51. Tuyển tập văn bia Hà Nội (1978), Văn bia tiến sĩ năm Nhâm Tuất do Thân Nhân Trung soạn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  52. Nguyễn Hòa Văn, Đặng Duy Thìn (2012), Chính sách đào tạo sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và công tác cán bộ hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia.
  53. PGS.TS Nguyễn Hoài Văn (2013), “Kinh nghiệm sử dụng người tài, xây dựng đội ngũ quan lại thời Lê Thánh Tông”, Tạp chí lý luận chính trị, Số 5/2013, Tr. 42 – 48.
  54. Trần Thị Vinh (2012), Thiết chế và phương thức tuyển dụng quan lại của chính quyền Nhà nước trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.

Tải luân văn miễn phí tại đây