NHỮNG BÀI TIẾNG ANH HỌC THUẬT DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO HỌC – BÀI 3 – SOME ECONOMIC LAWS

SOME ECONOMIC LAWS

Basic human needs are simple, but every individual has additional personal wants which may be very complex. These complex personal wants are satisfied in different ways by different things. A car, a bottle of whisky and a newspaper satisfy very different wants and the whisky is not a close substitute for the car. This special characteristic of satisfying a want us know in economics as its utility. Utility is not the same as usefulness. A submarine, for example, may or may not be useful in peacetime, but it satisfies a want. Many nations want submarines. Economists describe this kind of utility as ‘the relationship between a consumer and a commodity’.

 

MỘT SỐ QUY LUẬT KINH TẾ

Những nhu cầu cơ bản của con người rất đơn giản, nhưng mỗi người lại có những mong muốn cá nhân khác và những mong muốn này hết sức phức tạp. Những mong muốn phức tạp này của con người được đáp ứng bằng nhiều cách khác nhau bởi những thứ khác nhau. Một chiếc xe hơi, một chai rượu mạnh và một tờ báo có thể làm thỏa mãn những nhu cầu rất khác nhau và một chai rượu mạnh không thể là sự thay thế tương đương cho chiếc xe hơi. Tính đặc thù của việc đáp ứng nhu cầu này trong kinh tế học được gọi là độ thỏa dụng. Độ thỏa dụng không giống với sự hữu dụng. Ví dụ, một chiếc tàu ngầm  có thể có hoặc không có ích trong thời bình, nhưng nó lại làm thỏa mãn nhu cầu. Nhiều quốc gia cần tàu ngầm. Các nhà kinh tế học mô tả độ thỏa dụng này như là mối quan hệ giữa người tiêu dùng và hàng hóa.

 

Utility varies between different people and between different nations. A vegetarian does not want meat but may rate bananas very highly. A mountain – republic like Switzerland has interest in submarines, while maritime nations rate them highly. Utility also varies with time. In time of war, the utility of bombs is high and that of pianos is low. Utility is therefore related to our sense of prioritles. The utility of a commodity is also related to the quantity available to the consumer. If men buy a large quantity of paper, they will lose interest in buying more paper will go down. The utility of a commodity consequently decreases as the consumer’s stock increases.

 

Độ thỏa dụng thay đổi giữa những con người khác nhau và giữa các quốc gia khác nhau. Một người ăn chay không cần thịt, nhưng lại đánh giá cao về chuối. Một đất nước cộng hòa ở vùng núi như Thụy Sĩ ít quan tâm tới tàu ngầm, trong khi những quốc gia ở gần biển lại đánh giá rất cao đối với tàu ngầm. Độ thỏa dụng cũng biến đổi theo thời gian. Trong thời chiến, bom có độ thỏa dụng cao còn đàn piano thì thấp. Độ thỏa dụng vì vậy liên quantới ý thức của chúng ta về mức độ ưu tiên. Độ thỏa dụng của hàng hóa cũng liên quan tới số lượng hàng hóa có sẵn dành cho người tiêu dùng. Nếu người ta mua một số lượng giấy lớn, họ sẽ mất dần sự quan tâm tới việc mua giấy. Nhu cầu về giấy sẽ giảm. Vì vậy, độ thỏa dụng của hàng hóa sẽ giảm xuống khi lượng tồn kho của người mua tăng lên.
 

In most economic systems, the prices of the majority of goods and services are fixed. The individual cannot change the prices of the commodities he wants, and when planning his expenditure, he must accept these prices. A consumer will go on buying cigarettes as long as his satisfaction continues and they render utility. If he continues to pay the current price, his satisfaction is greater than his financial sacrifice. With each purchase, however, his satisfaction decreases, although the prices remain the same. If a consumer’s supply of money is limited, appoint will come when the financial sacrifice is greater than the satisfaction of smoking cigarettes. He will stop buying the commodity. The ciagarettes are the same, but their itility has changed. If the prices rose, he would buy fewer if they fell, he might buy more.

 

Đối với hầu hết các hệ thống kinh tế, giá cả của hầu hết hàng hóa và dịch vụ đã được cố định. Mỗi cá nhân không thể thay đổi được giá cả của hàng hóa mà họ cần, và khi sắp xếp kế hoạch chi tiêu, họ phải chấp nhận những mức giá đó. Một người tiêu dùng sẽ tiếp tục mua thuốc lá cho đến khi nào anh ta vẫn tiếp tục hài lòng với việc mua thuốc lá và thuốc lá vẫn còn có ích lợi đối với anh ta. Nếu anh ta tiếp tục trả tiền mua thuốc là với mức giá hiện tại, mức độ vừa lòng của anh ta sẽ lớn hơn sự chấp nhận hy sinh về tài chính. Tuy nhiên, khi càng mua nhiều thuốc lá thì mức độ hài lòng sẽ giảm dần, mặc dù giá thuốc lá vẫn ở mức đó. Nếu nguồn tiền của người tiêu dùng có hạn, sẽ đến lúc sự chấp nhận hy sinh tài chính sẽ lớn hơn sự thỏa mãn đối với việc hút thuốc lá. Anh ta sẽ dừng không mua nữa. Thuốc lá thì vẫn như vậy, nhưng độ thỏa dụng đã thay đổi. Nếu giá tăng lên, anh ta sẽ mua ít hơn; nếu giá giảm đi, anh ta sẽ mua nhiều hơn.
 

We can see that the nature of a commodity remains the same, but its utility changes. This indicates that a special relationship exists between goods and services on the one hand and a consumer and his money on the other hand. The consumer’s desire for a commodity tends to diminish as he buys more units of that commodity. Thus tendency is called the Law of Diminishing Marginal Utility.

 

Chúng ta có thể thấy bản chất của hàng hóa vẫn giữ nguyên, nhưng độ thỏa dụng thì thay đổi. Điều này chỉ ra rằng có một mối quan hệ đặc biệt tồn tại giữa một bên là hàng hóa và dịch vụ, với một bên là người tiêu dùng và tiền của họ. Mong muốn về hàng hóa của người tiêu dùng có khuynh hướng giảm đi khi họ mua nhiều đơn vị hàng hóa đó. Khuynh hướng này được gọi là Quy luật lợi ích (độ thỏa dụng) cận biên giảm dần.
Utility is of course related to the Laws of Supply and Demand. When economists talk about a Law of Supply, they mean that a rise in prices tens to increase the supply of a commodity, while a fall in prices tens to reduce it. When they talk about a Law of Demand, they mean that a fall in prices tends to increase the demand for a commodity, while a rise in prices tends to decrease the demand. In any economic situation, a consumer will decide to buy a commodity only in terms of its particular utility to him Độ thỏa dụng chắc chắn là liên quan tới Quy luật Cung – Cầu. Khi nhà kinh tế học bàn về Quy luật Cung, họ nói rằng sự tăng lên về giá sẽ dẫn đến sự tăng lên về lượng cung hàng hóa, trong khi việc giảm giá lại có xu hướng làm giảm lượng cung. Khi nói về Quy luật Cầu, họ cho rằng việc giảm giá sẽ làm tăng cầu về hàng hóa, trong khi việc tăng giá sẽ làm giảm lượng cầu hàng hóa. Trong mỗi tình huống kinh tế, một người tiêu dùng sẽ quyết định mua một loại hàng hóa chỉ theo quan điểm về độ thỏa dụng cá biệt của hàng hóa đó đối với bản thân họ.
 

If the prices of a particular commodity rise in the economy as a whole, the rise will naturally encourage producers to make more of that commodity. If, on the other hand, prices fall locally or throught the world producers will reduce production. Supplies of many commodities can generally be adjusted to suit market conditions. This means that changes in market prices lead to changes in the quantity of a particular commodity made available to consumers. Household goods and furniture are in this category. In such instances, supply is said to be elastic, because it can be increased or decreased rapidly to suit market prices.

 

Nếu giá cả của một hàng hóa cá biệt tăng trong tổng thể nền kinh tế thì tự nhiên nó sẽ kích thích nhà sản xuất sản xuất thêm nhiều loại hàng hóa đó. Mặt khác, nếu giá cả giảm một cách cục bộ hoặc trên toàn thế giới, các nhà sản xuất sẽ cắt giảm việc sản xuất. Lượng cung của nhiều hàng hóa sẽ được điều chỉnh tổng thể  cho phù hợp với tình hình thị trường. Điều này có nghĩa là những sự thay đổi về giá cả thị trường này dẫn tới sự thay đổi về số lượng hàng hóa cá biệt sẵn có dành cho người tiêu dùng. Hàng hóa gia dụng và đồ gỗ nằm trong hạng mục này. Đối với những loại hàng hóa này, cầu được cho là co giãn, bởi vì nó có thể tăng hoặc giảm một cách nhanh chóng phù hợp với giá cả thị trường.
 

The principle of elasticity operates in the area of demand as well as in the area of supply. People very seldom have everything they want. They usually have to choose carefully how they will spend their money. When they exercise this choice, they work according to their personal scale come of preferences, beginning with provide comfort or convenience of some kind (telephones, insurance, etc) and finally come the non – essenals like holidays anh trips to the theater, which are important parts of life but not comparable with food anh shelter. If it is necessary to pay very high prices for the essentials of life, people pay them – even if this means spending all their income. In such cases demand is inelastic. For non-essentials, however, demand is elastic and particulary responsive to changes in price.

 

Nguyên lý về sự co giãn tác động trong cả lĩnh vực cầu và cung. Người ta rất hiếm khi có được mọi thứ mình mong muốn. Họ thường phải lựa chọn một cách cẩn thận việc họ sẽ tiêu tiền như thế nào. Khi thực hiện lựa chọn, họ dựa theo cán cân mức độ ưu tiên của cá nhân, bắt đầu bằng những thứ thiết yếu  như thực phẩm và nhà ở. Tiếp theo trên cán cân của họ mới đến những hàng hóa mang lại tiện nghi, dễ chịu (như điện thoại, bảo hiểm…), và cuối cùng sẽ là những thứ không thiết yếu như các kỳ nghỉ hoặc đi đến rạp hát, những thứ cũng quan trọng trong cuộc sống nhưng không thể so sánh với thực phẩm và chỗ ở. Nếu cần phải trả mức giá cao cho những hàng hóa thiết yếu của cuộc sống, họ vẫn sẽ trả, thậm chí nếu việc này đồng nghĩa với việc phải chi tiêu hết cả thu nhập của mình. Trong những trường hợp như vậy, cầu không co giãn. Tuy nhiên, đối với hàng hóa không thiết yếu, cầu lại co giãn và phản ứng lại theo một cách đặc thù để làm thay đổi giá cả hàng hóa.