NHỮNG BÀI TIẾNG ANH HỌC THUẬT DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO HỌC – BÀI 2 – Manufacturing in the Less Developed Countries

Manufacturing in the Less Developed Countries

Less than 10 percent of the world’s manufacturing output comes from the developed nations, with over half of that from only six countries ( India, Brazil, Argentina, Mexico, South Korea and venezuela). However, the share of the world ‘s manufacturing occurring within the less developed nations is growing, as well as the percentage of the exports of these exports composed of industrial products. Manufactured products in the early 1980s accounted for over 40 percent of the nonfood exports of these countries, which compares to 20 percent in 1965 and 10 percent 1955.

Sản xuất ở những nước kém   phát triển

Gần 10% sản lượng sản xuất của thế giới có nguồn gốc từ các quốc gia kém phát triển, quá nửa trong số đó đến từ 6 quốc gia (Ấn Độ, Brazil, Argentina, Mexico, Hàn Quốc và venezuela). Tuy nhiên, thì phần sản xuất ở các nước kém phát triển ngày càng tăng, và số phần trăm xuất khẩu của các nước này gồm các sản phẩm công nghiệp. Những sản phẩm được sản xuất ra vào khoảng đầu những năm 1980 chiếm hơn 40% là các mặt hàng xuất khẩu phi thực phẩm của các nước này, so với 20% trong năm 1965 và 10% vào năm 1955.

 

Much of the manufacturing is generated and controlled by multinational corporations, either through subsidiaries or by contracting out to local enterprises. The investment of the multinationals in the less developed countries is geographically uneven. The oil rich countries of southwest asia, africa, southeast asia and Latin America are a major priority. The bulk of the remainder of the investment goes to in the intermediate class of the countries Latin America (Brazil, Argentina) and southeast asia (Malaysia, singapore). In the poorest coutries of the world, multinational invest mainly in plantations and mining (independent commision on international development issues 1980, pp.174-87) Phần lớn các  sản xuất này được tạo ra và kiểm soát bởi các tập đoàn đa quốc gia, hoặc thông qua các công ty con hoặc bằng cách ký cho các doanh nghiệp địa phương thầu. Việc đầu tư của các công ty đa quốc gia ở các nước kém phát triển là không đồng đều về mặt địa lý. Các quốc gia giàu về dầu mỏ Tây Nam Á, Châu Phi, Đông Nam Á và Mỹ Latinh là ưu tiên hàng đầu. Phần lớn các phần còn lại của đầu tư dành cho các quốc gia trung gian của các nước Mỹ Latinh (Brazil, Ác-hen-ti-na) và Đông Nam Á (Malaysia, Singapore). Ở các nước nghèo nhất thế giới, các công ty đa quốc gia đầu tư chủ yếu vào các đồn điền và khai thác mỏ (Ủy ban độc lập về các vấn đề phát triển quốc tế năm 1980, pp.174-87)
 

Foreign investment in the less developed countries tends to concentrate in urban areas, often ports or capital cities. In Nigeria, for example, during the 1960s, three-quarters of the capital invested in medium and large scale industry were provided by foreign investors mainly British. As with most of the less developed countries, Nigerian capital was not available for major industrial development. Foreign firms employed 60,000 people, capitalizing on the abundance of cheap labor in the country. Most of these firms concentrated on the processing of raw materials for the local market, so they were largely located in the major cities of Lagos-Ibadan and Port Harcourt.

 

 

Đầu tư nước ngoài ở các nước kém phát triển có xu hướng tập trung vào các khu vực đô thị, cảng biển hoặc thành phố lớn.

Ví dụ, tại Nigeria trong những năm 1960, 3/4 vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp có  quy mô vừa và lớn được cung cấp bởi các nhà đầu tư nước ngoài, chủ yếu là người Anh. Như hầu hết các nước kém phát triển, nguồn vốn của Nigeria không đủ cho phát triển các ngành công nghiệp chính. Các công ty nước ngoài thuê 6000 người, dựa vào nguồn lao động rẻ, dồi dào của đất nước. Các công ty này tập trung vào chế biến các mặt hàng thô cho các chợ ở địa phương, vì thế họ đặt địa điểm tại các thành phố chính của Lagos-Ibanda và Port Harcourt.

The effect these patterns of investment is to widen spatial inequalities within the less developed countries, focusing industrial development in the cities, while the rural hinterlands remain tied to traditional economies (Coates, Johnston, and Knox 1977, pp. 127 – 99). These differences between the major urban centers and  rural areas often result in considerable internal migration, along with the many economic, social, and political changes that accompany extensive residential and occupational movements (chapters4 and 11) Tác động của những mô hình đầu tư như vậy là sự gia tăng không đồng đều về mặt không gian giữa các nước kém phát triển, phát triển công nghiệp tập trung ở những thành phố lớn, trong khi đó các vùng nội địa nông thôn gắn liền với các nền kinh tế truyền thống. (Coates, Johnston, and Knox1977, pp.127 – 29). Những khác nhau giữa trung tâm thành phố chính và các vùng nông thôn thường dẫn tới di dân nội địa đáng kể, cùng với sự thay đổi rất nhiều về kinh tế, xã hội và chính trijmaf kèm theo sự thay đổi này là những phong trào về dân cư và nghề nghiệp ở diện rộng.