Giao thương với Trung Quốc bằng nhân dân tệ dưới góc nhìn an ninh phi truyền thống

Hàng trung quốc tràn ngập chợ đồng xuân

Hàng Trung Quốc tràn ngập chợ Đồng Xuân, Việt Nam

Gần đây, trên báo đài có đưa tin về bản kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc (TQ) tại Việt Nam (VN) và Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC) về việc cho thanh toán nhân dân tệ trực tiếp ở VN. Bản kiến nghị căn cứ dựa trên lập luận rằng do nhu cầu giao dịch thanh toán bằng nhân dân tệ (NDT) tại VN là khá lớn và đang tăng lên rõ rệt (ước đạt khoảng 15 tỉ USD năm 2013) thông qua con đường không chính ngạch. Vì vậy, nếu thị trường thanh toán NDT từ biên giới được mở rộng đưa vào nội địa VN và được các ngân hàng thực hiện theo con đường chính ngạch, thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có thể quản lý nguồn vốn này hiệu quả, tăng cường thu thuế và công tác phòng chống rửa tiền. Dưới góc nhìn của quản trị an ninh phi truyền thống, chúng ta sẽ phần nào thấy được vai trò của bảo vệ an ninh tài chính quốc gia trong giao thương, thương mại quốc tế, cụ thể là với TQ

Quan hệ thương mại Việt Nam- Trung Quốc

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2014, tổng kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng từ Trung Quốc ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2013, cho thấy chênh lệch thương mại ròng giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đã rất lớn. Nhập siêu từ thị trường này đã lên tới 28,9 tỷ USD trong năm 2014, tăng 21,8% so với năm trước, đưa mức nhập siêu lên tới 46,5% tổng kim ngạch xuất nhập giữa hai nước. Trong khi xuất siêu của cả nước trong năm 2014 cũng chỉ đạt 2 tỷ USD, mức cao nhất kể từ năm 2012, tức là mức độ nhập siêu lớn từ Trung Quốc đã “ăn mòn” vào thành tích xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường khác. Ngoài ra, để nhập khẩu lượng hàng hóa lớn từ Trung Quốc đòi hỏi Việt Nam phải dự trữ một lượng ngoại tệ mạnh khổng lồ (hiện tại đồng đô la Mỹ là ngoại tệ giao dịch chủ yếu của Việt Nam), điều đó gây ra các hệ quả tiêu cực, gây mất an ninh kinh tế và an ninh trong thanh toán để tạo tiền thanh toán hàng nhập siêu với Trung Quốc.

Lợi bất cập hại của bản kiến nghị với an ninh quốc gia, an ninh doanh nghiệp Việt Nam

Quả thực, bản kiến nghị trên của phía TQ là điều hoàn toàn dễ hiểu và không lạ trong tham vọng mở rộng tầm ảnh hưởng với nỗ lực quốc tế hóa NDT của TQ. Trên thực tế, nước này đã ký kết nhiều hiệp ước hoán đổi tiền tệ song phương với Nga, Brazil, Úc… Việc hoán đổi tiền tệ trực tiếp này sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư giữa TQ và các nước này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng đồng tiền của hai bên trong hoạt động thương mại và đầu tư song phương. Nhưng động thái này cũng nhằm thúc đẩy các đối tác mua hàng xuất khẩu của TQ và nhận tín dụng bằng NDT. Chính vì vậy, nếu Việt Nam chấp nhận việc thanh toán bằng NDT, kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt 2 hệ lụy gây mất ổn định, rủi ro với VN và doanh nghiệp. Thứ nhất, cho đến nay, NDT chưa phải là ngoại tệ được tự do chuyển đổi trên thị trường quốc tế (thực tế, sức mạnh và độ tin cậy của NDT trên thị trường quốc tế vẫn chưa được đánh giá cao và vẫn chưa là đồng vốn chính của các định chế tài chính lớn trên thế giới như WB, ADB, IMF… ). Vì vậy, nắm giữ tiền này, DN sẽ chịu nhiều rủi ro, vì phải giao dịch bằng một ngoại tệ chưa được phổ biến, và mất thêm chi phí hoán đổi khi mua và bán so với giao dịch bằng đô la Mỹ có tính thanh khoản cao hơn. Bên cạnh đó, nếu chỉ thanh toán bằng NDT, ở vị thế yếu hơn trong cán cân thương mại sẽ dẫn đến việc DN nội địa buộc phải vay vốn của TQ. Như vậy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam không những càng lệ thuộc vào hàng hóa (thể hiện tốc độ nhập siêu ngày một tăng) mà còn về mặt tài chính (phụ thuộc vào nguồn cung NDT trong thanh toán) với Trung Quốc.
Nhân dân tệ hóa trong giao dịch tại Việt Nam
Trước đây, VN đã phải chứng kiến tình trạng đô la hóa, vàng hóa. Trong 2 – 3 năm qua, NHNN đã nỗ lực loại bỏ vàng, USD ra khỏi phương tiện thanh toán, thu hẹp phạm vi cấp tín dụng bằng đồng USD. Chính vì vậy, việc gia tăng phạm vi thanh toán giao dịch NDT ngay trên lãnh thổ Việt Nam chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả không tốt cho sự lành mạnh của thị trường, cho hoạt động quản lý của cơ quan hữu trách, nguy cơ phụ thuộc vào TQ.
Rõ ràng, thông qua bản kiến nghị gần đây của phía TQ, chúng ta càng nhận thấy được vai trò của việc đảm bảo an ninh tài chính quốc gia trong thương mại quốc tế. Điều đó càng đòi hỏi vai trò tiên phong của quản trị an ninh phi truyền thống trong việc đưa ra những khuyến nghị với các cơ quan quản lý nhằm tránh cho VN bị vướng vào những vấn đề có thể gây mất an ninh quốc gia.