Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hưng Yên)

Qua nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ luật học: “Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hưng Yên)” cho phép tác giả rút ra một số kết luận chung dưới đây:

  1. Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người được quy định trong chương XII Bộ luật hình sự 1999 (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) có ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng. Việc chính thức ghi nhận về mặt pháp lý hình sự các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành là một biểu hiện cụ thể của việc quy định quyền con người tại Điều 14 Hiến pháp 2013 “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
  2. Tình hình vi phạm nhân phẩm, danh dự của con người ở nước ta trong thời gian qua diễn biến rất phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu là do: công tác giáo dục văn hóa, đạo đức, lối sống mới chưa được quan tâm đúng mức còn nhiều thiếu sót; hệ thống pháp luật về quyền con người nói chung và bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng còn thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật còn nhiều hạn chế, kém năng động, thiếu sức thuyết phục, chưa phù hợp với từng loại đối tượng; các cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu đồng bộ, nghiêm khắc và kiên quyết trong đấu tranh phòng, chống vi phạm nhân phâm, danh dự của con người… Vì vậy, cuộc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm  nhân phẩm, danh dự của con người chỉ có tác dụng và đạt kết quả thực sự khi khắc phục được những nguyên nhân nói trên.
  3. Tình hình vi phạm quyền con người nói chung, vi phạm nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng là một trong những vấn đề cần quan tâm trong xã hội ta, bởi lẽ một đất nước muốn có nền kinh tế phát triển bền vững, còn đòi hỏi sự phát triển về văn hóa, giáo dục, về mức độ tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người.

Tình hình vi phạm nhân phẩm, danh dự hiện nay vẫn còn đang là vấn đề bức xúc trong xã hội và hễ có sự buông lỏng trong đấu tranh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, của các cấp, các ngành, vấn đề này lại tiếp tục phát triển. Vì vậy đấu tranh phòng chống vi phạm  nhân phẩm, danh dự của con người là một nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta.

Phải coi đây là cuộc đấu tranh của  toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của các cấp uỷ Đảng. Phải phát động cho được phong trào quần chúng rộng rãi, thường xuyên tham gia phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời phát huy được vai trò tham mưu nòng cốt của lực lượng Công an, Tư pháp, sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải luôn luôn bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những đặc điểm riêng của từng địa phương để có những chủ trương biện pháp sát thực, hiệu quả tránh dập khuôn máy móc, phô trương hình thức.

Phải coi công tác giáo dục đạo đức, lối sống mới, đồng thời đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quyền con người, sự tôn trọng và bảo vệ danh dự và nhân phẩm của con người. Đây là những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên, liên tục có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh này.

Đi đôi với việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, cần phải kiên quyết xử lý hành chính và dân sự các trường hợp xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người, kịp thời dăn đe, giáo dục để ngăn ngừa họ tiếp tục vi phạm và có thể trở thành người phạm tội. Đồng thời cũng phải kiên quyết xử lý về hình sự những hành vi phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người để có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung. Trong việc xử lý này, cần tăng cường phối hợp hoạt động có hiệu quả giữa cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, chính quyền địa phương để tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Giải quyết tình hình xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người phải trên cơ sở giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội, xây dựng gia đình, nhà trường, xã hội lành mạnh, mọi người tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của từng địa phương.

Hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người phụ thuộc vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, đẩy mạnh phong trào cách mạng của toàn dân, tính chủ động, tích cực của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các loại tội phạm này và tính đồng bộ của các biện pháp.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (1999), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  2. Bộ Công An (2000), Tài liệu tập huấn chuyên sâu Bộ luật hình sự 1999, Công ty in Ba Đình, Hà Nội.
  3. Lê Cảm (1999), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật Hình sự, tập 1, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.
  4. Lê Cảm (2000), các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự, Tập III, NXB Công an nhân dân, Hà Nội).
  5. Lê Cảm (2000), “Luật hình sự Việt Nam thế kỷ XV – cuối thế kỷ XVIII”, Dân chủ và pháp luật.
  6. Lê Văn Cảm (2004), Sách chuyên khảo sau đại học: những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học quốc gia hà nội, Hà nội).
  7. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
  9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/6 của Bộ chính trị về chiến lược cải cánh tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
  11. Đỗ Mười (1995), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”, Thông tin khoa học pháp lý.
  12. Nguyễn Văn Hào (1962), Bộ luật hình sự Việt Nam, xuất bản do sự bảo trợ của Bộ Tư pháp (chế độ Sài Gòn), Sài Gòn.
  13. Nguyễn Văn Hào (1974), Bộ luật hình sự Việt Nam, Nxb Khai Trí.
  14. Phan Hiền (1987), Một số vấn đề chủ yếu trong Bộ Luật hình sự, Nxb Sự thật, Hà Nội.
  15. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Cấu thành tội phạm lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  16. Trần Văn Luyện (2000), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  17. Lê Thị Sơn (1996), “Hoàn thiện chế định cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự”, Luật học.
  18. Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  19. Đào Trí Úc (1994), Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  20. Đào Trí Úc (Chủ biên) (1995), Tội phạm học, Luật hình sự và luật Tố tụng Hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  21. Nguyễn Như Ý, (Chủ biên) (1988), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
  22. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (1997), Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  23. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  24. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  25. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần riêng), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  26. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
  27. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
  28. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
  29. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung), Hà Nội.
  30. Quốc hội (2013), Hiến Pháp, Hà Nội.
  31. Toà án nhân dân tối cao (1979), Tập hệ thống hoá luật lệ về hình sự, tập 2, Hà Nội ).
  32. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2009), Báo cáo Tổng kết năm 2009, Hưng Yên.
  33. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2010), Báo cáo Tổng kết năm 2010, Hưng Yên.
  34. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2011), Báo cáo Tổng kết năm 2011, Hưng Yên.
  35. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2012), Báo cáo Tổng kết năm 2012, Hưng Yên.
  36. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2013), Báo cáo Tổng kết năm 2013, Hưng Yên.
  37. Tòa án chính trị Đông Dương, Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ.
  38. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  39. Các trang tin của Báo điện tử canh.com.
  40. Các trang tin của Báo điện tử Dantri.com
  41. Các trang tin của Báo điện tử Hưng Yên.
  42. Các trang tin của Báo điện tử Vnexpress.net.
  43. Bộ luật hình sự Nhật Bản (1994), Nguyễn Văn Hoàn (người dịch), Uông Chu Lưu (Người hiệu đính).
  44. Bộ Tư Pháp, Bộ luật hình sự Thụy Điển
  45. Bộ Tư pháp (1998), Chuên đề về Luật Hình sự của một số nước trên thế giới, Hà Nội.
  46. Bộ luật hình sự nước CHDCND Lào, Phunthophutthakhănty (người dịch), Uông Chu Lưu (người hiệu đính).

Tải luận văn miễn phí tại đây